Thứ Năm, 14 tháng 3, 2013

1 Khi răng sậm màu

Răng chuyển màu không chỉ làm mất thẩm mỹ, mà ẩn chứa nhiều nguy cơ khác. Vì thế, cần hiểu rõ nguyên nhân để có hướng điều trị thích hợp.

ThS-BS Trần Ngọc Phương Thảo - Khoa Kỹ thuật cao - BV Răng Hàm Mặt TP.HCM cho rằng, nguyên nhân làm cho răng sậm màu thường do vết dính trên bề mặt men gây ra bởi thức ăn, thức uống, thuốc lá, do thuốc súc miệng (thường được gọi là nguyên nhân ngoại sinh). Những người thường xuyên ăn trầu, uống nước chè đặc, ăn sôcôla nhiều cũng làm cho răng trở nên sậm màu. Một số người có sở thích trám lên răng những kim loại đắt tiền, do lâu ngày sự ôxy hóa kim loại làm cho răng bị ố vàng. Mặt khác, chỗ trám kim loại trên răng là điều kiện cho các loại vi khuẩn, bợn thức ăn bám vào làm đổi màu răng và có thể làm gia tăng nguy cơ sâu răng, nhất là đối với những người vệ sinh răng miệng kém.

Cơ chế thứ hai do sự hiện diện của các chất có màu trong men hay trong ngà răng (thường được gọi là nguyên nhân nội sinh). Các chất này có thể đi sâu vào trong cấu trúc răng trước hay sau khi mọc răng. Bên cạnh đó, sự sậm màu răng còn do nhiễm tétracycline xảy ra trong quá trình tạo ngà và là kết quả của sự tương tác kháng sinh với tinh thể hydroxyapatite trong giai đoạn khoáng hóa mô răng.

Các kháng sinh cùng nhóm với tétracycline như doxycycline, oxytétracycline, minocycline cũng gây ra sự đậm màu răng tương tự. Răng sữa có thể bị ảnh hưởng sớm nếu người mẹ dùng tétracycline sau khi mang thai được bốn tháng hoặc trẻ được dùng tétracycline trước chín tháng tuổi. Sậm màu răng sẽ xảy ra trên răng vĩnh viễn nếu trẻ dùng tétracycline trước bảy tuổi. Răng cũng có thể sậm màu do nuốt fluor quá nhiều trong quá trình hình thành và canxi hóa men răng tạo thành những điểm hơi nâu hay trắng đục. Những trường hợp nhiễm nặng gây khiếm khuyết men nhiều hơn không thể điều trị tẩy trắng răng thông thường mà phải phối hợp phục hình răng sứ thay thế hoàn toàn men răng bị khiếm khuyết đó.

Một số bệnh rối loạn máu như erythroblastosis fetails (phá hủy hồng cầu không tương hợp yếu tố rhesus giữa mẹ và thai nhi), thalassemia… có thể làm cho răng có màu nâu xanh hay nâu đỏ. Sự đậm màu răng sau khi mọc răng cũng xảy ra theo cơ chế tương tự trong trường hợp hoại tử tủy do chấn thương: việc chảy máu trong tủy dẫn đến sự xâm nhập máu vào các ống ngà. Tuổi càng cao cũng gây ra sậm màu răng do sự tích tụ ngà thứ cấp, hay do những thay đổi trên bề mặt men (mòn, nứt…) làm cho răng dễ nhiễm màu hơn. Ngoài ra các thủ thuật nha khoa có thể gây sậm màu răng do sự phóng thích kim loại từ miếng trám amalgam hay để sót lại mô tủy trong điều trị. Yếu tố di truyền có một vai trò quan trọng trong sự biểu hiện màu răng.

Thông thường, các vết sậm màu răng bên ngoài này thường có thể được điều trị bằng phương pháp đánh bóng răng (đối với những người bị răng đen, vàng do khói thuốc hoặc dùng nước chè đặc lâu ngày, muốn làm cho răng trắng trở lại thường là đi lấy cao răng, cạo sạch những vùng răng bị bám đen). Trám răng bằng vật liệu composite là cách thường được áp dụng cho những trường hợp răng mất men nhiều, đen sậm màu không có khả năng hồi phục độ sáng trắng.

Đối với sậm màu nội sinh thì cần đến phương pháp phức tạp và cao cấp hơn là phục hình răng sứ thay đổi màu răng. Tuy nhiên, hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại răng sứ, do đó nên tìm đến các nha sĩ có chuyên môn cao để được tư vấn kỹ, tránh tình trạng thay răng theo cảm tính, mất tiền, không có chất lượng.

Điều quan trọng là phải giữ gìn vệ sinh răng miệng thường xuyên sạch sẽ. Phụ nữ trong thời kỳ mang thai cũng như trẻ ở độ tuổi mọc răng, thay răng cần có chế độ dinh dưỡng bảo đảm. Khi bị sâu răng, viêm lợi, viêm tủy răng nên đi khám để được điều trị sớm, tránh để bệnh nặng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng màu răng.

1 Nhổ răng, những điều cần biết

Răng rung rinh: nhổ, răng hư: cũng nhổ. Tuy nhiên, theo các chuyên gia nha khoa, không phải răng nào "có vấn đề", bệnh nhân muốn nhổ cũng được.

Không bị đau nhưng chiếc răng cứ lung lay mãi khiến chị Thu (Q.Bình Tân, TP.HCM) rất khó chịu. Chị quyết định đến bệnh viện (BV) để nhổ. Thế nhưng, tại BV, chị nhận được lời khuyên nên giữ lại răng, không nên nhổ mà chỉ nên trám lại.

Những trường hợp không nên nhổ răng

Theo Thạc sĩ – bác sĩ Nguyễn Bá Lân, Trưởng phòng Nha khoa 126 Nguyễn Cư Trinh, Q.1, TP.HCM, các trường hợp không thể nhổ răng có thể liên quan đến bệnh lý toàn thân hay tại chỗ.

- Các bệnh lý toàn thân bao gồm những bệnh lý về đông máu, bệnh tim mạch không kiểm soát, bệnh máu ác tính, bệnh tiểu đường không kiểm soát và một số loại thuốc điều trị. Trong những trường hợp này, bệnh nhân nên tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa. Vì vậy, bác sĩ chỉ quyết định can thiệp khi bệnh lý của bệnh nhân đã ổn định sau điều trị nội khoa.

- Các bệnh lý tại chỗ bao gồm những răng trong vùng đang điều trị xạ trị và bị nhiễm trùng cấp tính.                  

Ngoài ra, còn chống chỉ định nhổ răng nếu xét thấy vấn đề này không khẩn cấp ở phụ nữ có thai.

Những trường hợp cần phải nhổ răng:

- Răng bị sâu trầm trọng, không thể phục hồi.

- Hoại tử tủy nhưng không thể điều trị được với thủ thuật nội nha.

- Bệnh nha chu tiến triển dẫn đến răng lung lay trầm trọng không thể phục hồi.

- Răng mọc sai vị trí và răng không có chức năng.

- Răng nứt hoặc vỡ nhưng không thể tái tạo để bảo tồn.

- Khi có chỉ định phục hình lại răng.

- Răng ngầm được chỉ định. Tuy nhiên, không phải tất cả răng ngầm đều có chỉ định nhổ.

- Răng dư.

- Răng có sang thương bệnh lý như là khối u nhưng không thể điều trị hoàn toàn nếu không nhổ răng.

- Trước khi điều trị ung thư loại bỏ tủy trầm trọng hoặc xạ trị, bất kì răng nào có tiên lượng mơ hồ hay có tiềm năng nhiễm trùng đều phải được nhổ đi.

- Răng nằm trong vùng gãy xương hàm.

Số răng nhổ ở mỗi lần tùy thuộc vào vị trí của các răng, tình trạng răng và sức khỏe của bệnh nhân. Có thể nhổ 2 - 3 răng cùng một lần. Không nên nhổ các răng ở hai bên hàm trong một lần vì sẽ gây trở ngại trong quá trình ăn uống.

Thứ Ba, 12 tháng 3, 2013

1 Trám răng, hàn răng


Trám răng, hàn răng

Hàn răng (hay trám răng) có thể hiểu một cách đơn giản là dùng vật liệu đặc biệt để khôi phục lại hình dáng và chức năng của răng.
Trám răng được thường sử dụng trong các trường hợp sau:
- Sâu răng: dùng vật liệu trám để bịt kín lỗ sâu răng, ngăn không cho vi khuẩn hoặc các tác nhân bên ngoài như nhiệt độ, hoá chất tấn công, huỷ hoại tuỷ răng.
- Chấn thương: trong các tình huống tai nạn khiến cho răng gẫy hoặc vỡ thì vật liệu trám được sử dụng để tái tạo lại hình dáng ban đầu, đồng thời đảm bảo tốt chức năng nhai của răng.
- Mòn răng: ví dụ trong trường hợp đánh răng quá mạnh, dùng bàn chải lông cứng, khiến cho lớp men răng ở bề mặt cổ răng bị hao mòn đáng kể, lộ lớp ngà răng, khiến người bệnh rất nhạy cảm khi ăn uống đồ nóng hoặc lạnh. Khi đó người ta có thể trám vết mòn, bảo vệ lớp ngà răng.
- Nhu cầu thẩm mỹ: ví dụ như răng cửa có màu vàng, mất thẩm mỹ, có thể sử dụng chất trám răng có màu trắng để bao bọc bề mặt răng, làm cho răng trở nên trắng.

Các loại vật liệu trám răng
Amalgam: Là loại vật liệu trám được sử dụng lâu đời nhất, có trên 100 năm tuổi. Đây là một hỗn hợp của các phân tử kim loại bao gồm thuỷ ngân, bạc, kẽm, đồng…
+ Ưu điểm: của Amalgam là rẻ, dễ dùng, sức chịu lực tốt nên thường được dùng trong các xoang to hoặc ở những nơi chịu áp lực lớn như mặt nhai của răng hàm.
+ Nhược điểm: là không thẩm mỹ do có màu xám bạc. Do đó thường chỉ được dùng để trám các răng ở phía trong của hàm răng như răng hàm. Ngoài ra, Amalgam còn dẫn nhiệt tốt, ảnh hưởng đến cảm giác của người bệnh khi ăn thức ăn nóng, lạnh.
 

Xi-măng silicat: cũng là loại vật liệu được sử dụng từ lâu. Nó có tính thẩm mỹ cao hơn Amalgam do màu sắc gần giống màu của răng.
Ưu điểm: của xi-măng này là dễ sử dụng, giá rẻ, dẫn nhiệt kém, bám vào răng rất chắc nên ít trường hợp bị rơi ra sau khi trám. Ngoài ra một số loại xi-măng silicat có chứa Flo, do đó có khả năng chống sâu răng.
Nhược điểm: là yếu, khả năng chịu lực và chống mòn kém, do đó chỉ dùng để hàn cổ răng, là nơi dễ phát sinh sâu răng và ít chịu tác động của ngoại lực có cường độ lớn.

Nhựa tổng hợp (composite): Đây là loại vật liệu mới nhất, được phổ biến rộng rãi trong những năm gần đây. Ở nước ngoài, composite đang ngày càng được ưa chuộng bởi nhiều tính năng ưu việt của nó, hơn hẳn Amalgam và xi-mang silicat. Ở nước ta trám composite còn được gọi là trám răng thẩm mỹ.
 
 + Ưu điểm: nổi bật nhất của composite là tính thẩm mỹ rất cao. Có rất nhiều màu khác nhau để chọn lựa cho phù hợp với các màu răng khác nhau. Hơn nữa, độ cứng, độ chịu lực, chịu mòn của composite cũng cao hơn xi-măng (tuy nhiên vẫn kém hơn Amalgam). Do vậy có thể dùng nó để trám nhiều vị trí khác nhau trong miệng, từ những nơi đòi hỏi thẩm mỹ như răng cửa cho đến những nơi đòi hỏi khả năng chịu lực tốt như răng hàm.
+ Nhược điểm: của composite là giá thành đắt. Hơn nữa vật liệu này đòi hỏi nha sĩ phải có tay nghề cao, thao tác chính xác, nếu không miếng trám sẽ không đạt chất lượng yêu cầu (ví dụ như không bền, dễ bị rơi ra hoặc dễ bị tái phát bệnh sâu răng). Một điểm cần lưu ý nữa là khả năng chịu mòn, chịu áp lực của nhựa tổng hợp vẫn còn kém hơn nhiều so với Amalgam.
Vì những đặc điểm trên mà composite thường được dùng để trám răng cửa hoặc những xoang trám bé ở răng hàm.
Tính năng của composite vẫn đang không ngừng được cải thiện và trong tương lai gần đây sẽ là vật liệu số một để trám răng.

1 Tại sao chúng ta cần điều trị tủy chân răng


Tại sao chúng ta cần điều trị tủy chân răng

Răng của bạn phía ngoài là men, bên trong là ngà, trong cùng là vùng mô mềm gọi là tủy răng, ở đó có động mạch, tĩnh mạch, thần kinh và các mao mạch bạch huyết của răng. Ống tủy chân răng là những nhánh rất nhỏ, mỏng phân nhánh từ buồng tủy phía trên xuống đến chóp chân răng. Răng có thể có từ 1 đến 4 ống tủy.
Tại sao chúng ta cảm thấy đau ?
Nguy cơ và biến chứng là gì ?Những gì liên quan đến việc điều trị tủy chân răng ?

Khi tủy răng bị viêm bởi một lỗ sâu lớn hoặc do vết gãy, vi khuẩn sẽ xâm nhập vào tủy làm tủy viêm. Tủy răng bị viêm sẽ làm gia tăng hoạt động của các tế bào và lượng máu lưu thông làm tăng áp lực bên trong tủy và gây đau. Người ta thường cảm thấy đau khi cắn, nhai trên đó hoặc khi uống và tiếp xúc với thức ăn nóng hay lạnh.
Tại sao chúng ta cần điều trị tủy chân răng ?
Bởi răng bị viêm tủy không tự lành lại được. Nếu không điều trị, nhiễm trùng sẽ lan rộng, vùng xương quanh răng đó sẽ bị thoái hóa và răng có thể bị rụng. Cơn đau thường trở nên tồi tệ hơn đến nổi bệnh nhân phải đến gặp nha sĩ khẩn cấp. Lúc đó, sự lựa chọn duy nhất thường là nhổ răng, nhưng nhổ răng có thể dẫn đến sự nghiêng lệch của những răng kế cận và sai khớp cắn. Mặc dù nhổ răng dễ hơn, nhưng khoảng trống mất răng sau khi nhổ cần đến một implant (cắm ghép răng) hoặc phục hình cầu răng và các biện pháp này đắt tiền hơn điều trị tủy chân răng nhiều. Nếu bạn còn có thể chọn lựa, tốt nhất là hãy giữ lại răng nguyên thủy của bạn.
Điều trị tủy chân răng là gì ?
Lấy tủy chân răng là phương pháp được thực hiện để cứu lấy răng bị chết hoặc bị hư hại trong ống chân răng bằng cách làm sạch kỹ lưỡng mô tủy bị bệnh và tạo hình lại ống tủy. Ống tủy sẽ được trám kín với Guttapercha, một vật liệu giống cao su, để ngăn ngừa sự tái viêm nhiễm của răng. Tiếp theo răng được trám kín vĩnh viễn hoặc bọc chụp.

Việc điều trị thường bao gồm 1 đến 3 buổi hẹn. Trước tiên bạn sẽ được gây tê tại chỗ để làm tê khu vực có răng đau, sau đó nha sĩ sẽ khoan một lổ từ thân răng xuống buồng tủy và đi dọc theo ống tủy bị viêm lấy sạch mô tủy bị bệnh và tạo hình lại, kế đến bông tẩm thuốc được đặt vào trong răng để diệt vi khuẩn. Tùy theo tình trạng răng, mà thân răng được hàn tạm thời để chống lại sự tái nhiễm bẩn hoặc răng được mở trống để dẫn lưu hoặc nha sĩ sẽ đi ngay vào giai đoạn trám bít ống tủy. Nếu nha sĩ hàn tạm, thì lần hẹn kế, miếng trám tạm được lấy đi, buồng tủy và ống tủy được trám bít với Guttapercha hoặc những vật liệu khác để ngăn sự tái viêm nhiễm. Nếu răng còn yếu, một chốt kim loại có thể được đặt vào ống tủy để tăng cường nâng đỡ răng, một khi được trám thì ống tủy được hàn kín vĩnh viễn. Cuối cùng nha sĩ thường bọc răng đó lại bằng chụp sứ để  đảm bảo răng sẽ không bị vỡ  và cải thiện hình dáng bên ngoài của răng.

Hơn 95% trường hợp điều trị tủy là thành công. Tuy nhiên, đôi khi vài trường hợp đòi hỏi phải điều trị lại do có những ống tủy phụ hoặc dụng cụ trám ống tủy bị gãy trong ống tủy, tuy nhiên cả hai điều này cũng hiếm xảy ra.
Sau điều trị tủy điều gì sẽ xảy ra ?
Thông thường ngay sau khi được điều trị chiếc răng đã hết đau. Ở một số trường hợp sự sưng nề mô tự nhiên có thể làm bạn khó chịu vài ngày, điều này có thể kiểm soát được bằng các thuốc giảm đau bán ở nhà thuốc. Từ thời điểm này trở đi nên chải răng và dùng chỉ nha khoa thường xuyên, tránh nhai thức ăn cứng trên răng đã lấy tủy và hãy đến gặp nha sĩ đều đặn để khám răng định kỳ 6 tháng / 1 lần.

1 10 THẮC MẮC THƯỜNG GẶP VỀ SÂU RĂNG


10 THẮC MẮC THƯỜNG GẶP VỀ SÂU RĂNG

Ăn đồ chua gây sâu răng? Nếu bạn điều trị lỗ hổng ở răng thì sẽ không bị sâu răng nữa? Sau đây là giải đáp của chuyên gia tư vấn tiêu dùng Hiệp Hội Nha khoa Mỹ:
1. Đường là nguyên nhân gây sâu răng hàng đầu?
Vi khuẩn gây sâu răng không chỉ thích đường mà còn ưa cả tinh bột - đường. Gạo, khoai tây, bánh mì, hoa quả và rau đều có chất tinh bột - đường.
Ngoài ra, một thủ phạm khác là do khoảng thời gian răng tiếp xúc thức ăn quá lâu. Do đó, nếu cứ nhấm nháp đồ ăn có đường, tinh bột - đường cả ngày thì đó thực sự là mối nguy hiểm cho răng.
2. Những thực phẩm có axít như chanh có gây sâu răng?
Thức ăn có tính axít như chanh, nước trái cây họ cam quýt hoặc nước ngọt không phải là nguyên nhân gây sâu răng nhưng chúng có thể gây hại cho men răng.                                                 
                                            Hãy thường xuyên tự kiểm tra răng để phát hiện sớm các bệnh ở răng miệng
3. Trẻ con bị sâu răng nhiều hơn người lớn?
Đó là một lầm tưởng do người lớn quá quan tâm đến sức khỏe răng miệng của trẻ.
Nhóm hay bị sâu răng chính là người cao tuổi do nước bọt giảm gây khô miệng, làm lượng axít tăng lên, thức ăn dễ dính vào răng.
4. Đặt thuốc Aspirin vào răng để chống đau răng?
Hoàn toàn sai. Nếu uống Aspirin thì có thể giúp bạn giảm cơn đau nhức. Tuy nhiên Aspirin là axít, nếu bạn để thuốc cạnh răng thực tế sẽ làm tổn thương mô lợi, nặng hơn thì gây áp-xe. Cách tốt nhất để giảm đau răng là uống thuốc.
5. Chất hàn răng cần phải thay?
Sai. Bạn chỉ phải hàn lại hoặc thay thế chất hàn răng khi chúng bị vỡ, sứt mẻ.
6. Nếu bạn bị sâu răng, bạn sẽ biết ngay?
Đó là một hiểu lầm tai hại. Ở giai đoạn đầu của sâu răng thì sẽ không có biểu hiện gì. Đến khi bạn cảm nhận được nỗi đau của những chỗ sâu răng gây ra thì lúc đó sâu răng đã ở mức độ nặng và gây tổn hại dây thần kinh rất nhiều rồi.
                                                  
7. Răng yếu có nghĩa là bạn bị sâu răng?
Hoàn toàn sai. Răng yếu chỉ đơn thuần bạn có hàm răng yếu hoặc lợi bị tụt để lộ chân răng. Răng yếu cũng là một yếu tố dễ gây sâu răng nhưng cũng còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố khác.

8. Sâu răng sẽ “bén rễ” vào tủy?
Bị vỡ, nứt hoặc các loại chấn thương ở răng cũng có thể gây ảnh hưởng đến tủy răng. Có rất nhiều trường hợp nghiến răng nhiều cũng gây chấn thương và cần điều trị tuỷ răng.
9. Ăn đồ cứng, cắn, nhai mạnh dẫn đến sâu răng?
Sai nhưng đôi khi lại đúng. Việc nhai, siết chặt răng, mài răng là một trong những cách hủy hoại răng vô thức tai hại nhất. Nhai nhẹ nhàng thì sẽ gây áp lực lên răng rất ít nhưng nhai mạnh, nhai đồ cứng trong thời gian dài sẽ gây “stress” cho răng, làm răng dễ bị tổn thương, tạo lỗ hổng, vết nứt vỡ, hở chân răng sẽ đẩy nhanh tốc độ sâu răng.
10. Răng sữa sâu không quan trọng?
Hoàn toàn sai. Răng sữa giữ chỗ cho răng vĩnh viễn. Nếu sâu răng sữa không được điều trị thì chúng có thể phát triển thành cơn đau nghiêm trọng và gây áp-xe.
Đôi khi nhiễm trùng có thể lây lan sang các khu vực khác của cơ thể và trong một vài trường hợp có thể dẫn đến tử vong.

1 Sâu răng và cách điều trị


Sâu răng và cách điều trị

Nếu không được điều trị, bệnh có thể gây các biến chứng như viêm tủy răng, viêm quanh cuống răng với các cơn đau dữ dội. Sâu răng còn có thể gây viêm hạch, viêm tủy xương, thậm chí gây nhiễm trùng huyết.

Sâu răng là một bệnh mạn tính phổ biến. Tuy y học đã phát triển nhiều, vệ sinh răng miệng đã được thực hiện rộng rãi nhưng tỷ lệ bệnh sâu răng vẫn ngày càng tăng ở các nước phát triển (90%, thậm chí 100% dân số).

Chẩn đoán sâu răng thường dựa vào các triệu chứng:
- Nhìn thấy lỗ sâu: Thường là thương tổn men và ngà răng. Nếu dùng que nạo ngà, lấy hết vụn bẩn thức ăn trong lỗ sâu, sẽ thấy đáy lỗ sâu rộng hơn miệng lỗ.
- Đau buốt khi kích thích: Khi thức ăn lọt vào lỗ sâu, khi ăn nóng, lạnh, ngọt..., bệnh nhân sẽ đau buốt; hết tác nhân kích thích sẽ hết đau.
- Nếu thấy răng có lỗ sâu mà đau thành cơn kéo dài khoảng 10 phút rồi dịu dần thì đó là dấu hiệu nhiễm trùng tủy răng. Lúc này, sự can thiệp của thầy thuốc là rất cần thiết.
Để điều trị sâu răng, cần nạo sạch ngà vụn, sát khuẩn lỗ sâu và hàn kín. Tùy theo vị trí của lỗ sâu, mức độ sâu và điều kiện kinh tế của từng bệnh nhân, bác sĩ sẽ chọn chất hàn phù hợp.
Để phòng sâu răng, không nên ăn vặt, nhất là thức ăn có đường; tăng cường thức ăn có nhiều chất xơ như rau, táo, cam... Cần tăng cường chất lượng tổ chức cứng của răng bằng cách: người mẹ mang thai ăn uống tốt, nhất là cung cấp đủ canxi và vitamin; trẻ em cần chống còi xương, suy dinh dưỡng vì điều này ảnh hưởng tới sự phát triển của răng. Vitamin D, fluor là chất vi lượng rất quan trọng để nâng cao chất lượng tổ chức cứng của răng.
Về vệ sinh răng miệng, cần chải răng đúng cách với kem chứa fluor, tốt nhất là sau bữa ăn. Nếu chải 1 lần/ngày thì nên làm vào buổi tối trước khi đi ngủ. Lấy cao răng định kỳ 6 tháng/lần.

1 Nguyên nhân sâu răng và cách chữa

Sâu răng là bệnh rất phổ biến, có thể gặp ở mọi lứa tuổi (từ những trẻ răng sữa đến người già). Ngoài việc gây đau nhức và những biến chứng viêm tủy, viêm quanh chân răng, sâu răng còn gây ra những trở ngại về giao tiếp như hơi thở hôi, ngả màu men răng... Vì thế cần có những hiểu biết để phòng ngừa và đi điều trị sớm nếu mắc bệnh.

Thế nào là bị sâu răng?
Răng bị sâu khác với các bộ phận khác bị tổn thương, vì đây là một quá trình và là bộ phận duy nhất trong cơ thể không có khả năng tự phục hồi, phải chữa trị. Thông thường sâu răng phát triển liên tục từ lớp nông đến lớp sâu của răng.
Triệu chứng ban đầu là răng đổi màu, lúc này người bệnh chưa cảm thấy gì, lỗ sâu răng chưa có và kích thích do thức ăn nóng, lạnh chưa xảy ra. Một thời gian sau, răng biến đổi sang màu nâu hoặc màu đen. Lỗ sâu ở răng xuất hiện, người bệnh cảm thấy khó chịu khi thức ăn giắt vào lỗ sâu, cảm thấy buốt khi ăn thức ăn nóng, lạnh, đau khi có thức ăn nóng giắt vào. Nếu lỗ sâu tiếp tục bị sâu thì phần đáy lỗ bị bong calcium và mềm hóa, nhiễm vào tầng sâu của răng, làm cho bệnh nặng hơn. Khi răng đau kéo dài, hoặc mức độ đau gia tăng thì rất có thể tủy răng đã bị viêm. Bên cạnh đó, khi bị sâu răng, hơi thở của người bệnh còn có mùi hôi.

Những nguyên nhân gây sâu răng
Người ta cho rằng có 4 nhân tố như một chuỗi liên hoàn gây ra sâu răng là vi khuẩn, thức ăn, răng của từng người và thời gian.
Vi khuẩn gây sâu răng là các vi khuẩn bám vào mặt răng và có khả năng gây sâu răng, chúng sản sinh và tiết ra chất hữu cơ, polyore, enzyme thủy phân chất lòng trắng trứng (một thành phần trong nước miếng), những chất đó có thể hòa tan chất hữu cơ và phân hủy chất vô cơ của kết cấu răng. Các vi khuẩn này bám vào răng hình thành các đốm khuẩn, đến lượt các đốm khuẩn này phát triển tấn công răng.
Khả năng chống sâu của răng tùy thuộc vào trạng thái kết cấu của răng. Hàm răng không bị sứt mẻ, không khiếm khuyết, mọc thẳng hàng, thẳng lối, men răng trắng bóng, mức khoáng hóa răng cao là những yếu tố quan trọng chống lại các tác nhân gây sâu răng. Ngược lại, các yếu tố này không hoàn chỉnh thì nguy cơ sâu răng là rất lớn.
Sự gây ra sâu răng của thức ăn được nhắc đến nhiều nhất là đường, là cơ sở quan trọng để vi khuẩn bám vào đó sinh sôi nảy nở, nhất là ăn nhiều đường, ăn đồ ngọt, không đánh răng trước khi đi ngủ. Các gợn thức ăn còn bám vào các kẽ răng, nếu không đánh răng thường xuyên, hoặc/và không lấy cao răng định kỳ cũng sẽ làm môi trường thuận lợi cho vi khuẩn gây sâu răng phát triển.
Quá trình từ răng mới sâu đến khi hình thành lỗ sâu phải trải qua một thời gian, nhanh hay chậm tùy thuộc vào sự vệ sinh, khả năng chống sâu của từng người và cũng phụ thuộc mức độ vi khuẩn nhiều hay ít. Người ta cho rằng từ lúc xuất hiện các đốm răng cho đến khi hình thành lỗ sâu có thể đến 1,5 năm, trong thời gian đó rất cần được điều trị kịp thời.

Điều trị răng sâu như thế nào?
Dùng thuốc điều trị cho những trường hợp mới chớm sâu, chưa hình thành lỗ. Thuốc dùng thường là chấm vào chỗ bị sâu, đây là những dung dịch có tính sát khuẩn. Phương pháp này chỉ nên áp dụng cho chỗ sâu của răng nghiền phía sâu vì dễ gây đổi màu men răng.
Biện pháp nạo bỏ phần răng bị sâu, áp dụng cho mọi lỗ sâu răng, nhất là lỗ sâu rộng, nhằm ngăn chặn sự phát triển tiếp theo của răng sâu.
Biện pháp tái khoáng phần bị sâu, dùng dung dịch gồm các chất calcium, phosphate, fluorine đổ vào nơi răng bị sâu. Phương pháp này áp dụng cho trường hợp răng chớm sâu, có khả năng thu hẹp vùng có màu trắng vôi hoặc vùng đó ngừng phát triển. Đây là phương pháp tái khoáng đơn giản, hiệu quả, không đau và an toàn.
Hàn vá lỗ sâu là phương pháp thường dùng nhất để chữa sâu răng, áp dụng đối với răng có khả năng định vị sau khi bị sâu. Khi hàn vá sử dụng chất liệu hàn vá để hàn thật chắc vào răng, vá vào chỗ khuyết của răng, khôi phục tính năng của răng, nhằm giữ được thẩm mỹ và chức năng cho hàm răng.

Phòng bệnh sâu răngTrước hết phải vệ sinh răng miệng sau khi ăn, trước khi đi ngủ. Hạn chế ăn thức ăn chứa nhiều đường. Trẻ em trong thời kỳ mọc răng, thay răng càng phải đặc biệt quan tâm đến hàm răng, như cho trẻ ăn đủ chất tạo răng, đánh răng và dạy trẻ biết đánh răng cho mình. Dùng kem đánh răng có chứa flourine, có thể dùng thêm nước súc miệng diệt khuẩn sau bữa ăn. Những phụ nữ mang thai cần bổ sung calcium để trẻ sinh ra không bị thiếu chất tạo răng. Mọi người cũng cần khám răng định kỳ 6 tháng/lần để kịp thời phát hiện những biến đổi của răng, có các biện pháp điều trị phù hợp.
 

Niền răng Copyright © 2011 - |- Powered by TienHip.